Trong đời sống đương đại, dân ca ví và giặm Nghệ Tĩnh hiện cũng đã có những biến đổi khăng khăng

Thì hiện dân ca ví và giặm Nghệ Tĩnh đã trở về với các nhạc cụ truyền thống như tranh, bầu, sáo, nhị. Đầu tiên cần phải khẳng định ví và giặm là hai lối hát vừa giống nhau nhưng rất khác nhau của dân ca Nghệ Tĩnh.
Nên chăng trong các LH cần phải khôi phục vai trò của người trùm trò. Không hẳn là tên gọi cũ của hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh lúc chưa tách tỉnh mà Nghệ Tĩnh ở đây được xem là một miền văn hóa, như miền văn hóa Kinh Bắc, vùng văn hóa Tây Bắc. Thường nhật trong các cuộc “tỉ thí” hát dân ca giữa các phường với nhau, vẫn luôn có một người “trùm trò” đứng sau. Sau một thời kì bị “nhạc điện tử” hóa dân ca với sự xuất hiện của đàn Organ đệm nhạc hay cả dàn nhạc phương Tây.
Cụ thể, di sản này vẫn là một loại hình dân ca, đa số người dân ở Nghệ An và Hà Tĩnh hiện đều có thể hát được đôi ba câu hát, bài hát dân ca ví và giặm Nghệ Tĩnh.
Có thể nói, dân ca ví, giặm Nghệ Tĩnh bên cạnh những giá trị vững bền đáng ghi nhận thì hiện nó đang có những khoảng trống đáng lo, cần sự chung tay, đồng lòng để bảo tồn từ nhiều phía. Thông thường thì các nghệ nhân có thể hát được cả ví cả giặm và trong những môi trường diễn xướng cụ thể, các nghệ nhân vẫn hát cả ví cả giặm.
Lẽ thế nên để dân ca ví và giặm Nghệ Tĩnh đích thực trở thành di sản “sống khỏe” trong đời sống hiện đại cần nhiều bước bảo tàng và chung tay chung sức từ nhiều phía.
Nhưng điều đáng buồn là không ít thay đổi đó đang khiến dân ca ví và giặm Nghệ Tĩnh đứng trước thách thức bị mai một, mất bản sắc. Trùm trò, anh ở đâu? Nhìn chung, dân ca ví và giặm Nghệ Tĩnh về âm nhạc chỉ có chung một câu thức và trên nền âm nhạc đó mà ngẫu hứng, sáng tạo ra nhiều làn điệu, nhiều bài hát khác nhau.
Hồ sơ nhà nước dân ca ví, giặm Nghệ Tĩnh cũng đã chính thức đệ trình UNESCO xét vinh danh là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại trong thời kì sắp tới. Nhắc đến dân ca Nghệ Tĩnh là nhiều người biết đến các làn điệu ví Phường Vải, ví Đò Đưa, giặm Phường Rèn… Thế nhưng hiện các ngành nghề này đa số đều đã bị mai một, thậm chí nghề thuyền chài trên dòng sông Lam đang đối mặt với nguy cơ mất tích.
Theo Baovanhoa. Nhưng nói cho cùng, trong đời sống đương đại giờ, công tác bảo tàng và phát huy giá trị di sản dân ca ví, giặm Nghệ Tĩnh vẫn luôn đặt ra những thách thức. Một trong những sức bật của dân ca ví và giặm Nghệ Tĩnh là các cuộc hát đối đáp, giao lưu giữa con người lao động với nhau, giữa các phường với nhau… Trong những cuộc đối đáp đó, những làn điệu, bài hát mới của dân ca Nghệ Tĩnh bật lên một cách tự nhiên, đầy ngẫu hứng để đối đáp lại.
Ngay từ tên gọi, dân ca Nghệ Tĩnh cần phải bảo vệ nguy cấp cho ví và giặm. Cũng như nhiều loại hình dân ca của nhiều vùng miền khác nhau, dân ca ví, giặm đang đối mặt với thách thức thay đổi môi trường diễn xướng trong đời sống đương đại.
Dân ca ví, giặm Nghệ Tĩnh từ lâu đã nức danh cả nước với nhiều giá trị văn hóa như triết lý, nhân sinh quan chất chứa trong những câu hát và cả những câu thức mang đậm phong cách âm nhạc ngũ cung đặc trưng của dân ca VN nói riêng và âm nhạc VN nói chung… Việc ghi danh dân ca ví, giặm Nghệ Tĩnh vào Danh sách Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia là minh chứng thiết thực cho giá trị của di sản này.
Nhưng nếu dùng những từ mang tính phổ quát thì dân ca Nghệ Tĩnh lại bị mất âm vần trong nhạc điệu, dễ hòa tan với các dân ca vùng miền khác. Người này có thể là một người dân, một thân sĩ, nhà nho học… không hát mà đứng trùm khăn, giấu mặt đặt lời cho phường của mình hát đối đáp. Điều đáng buồn nữa là không ít bài hát ru của ví và giặm Nghệ Tĩnh hiện nay tương đối giống với hát ru của miền Bắc do các nghệ nhân, nghệ sĩ trẻ hiện nay dùng từ phổ thông trong cách hát… Điều đáng mừng là nếu so với các di sản văn hóa phi vật thể khác vốn đang đối mặt với sự thiếu vắng những nghệ nhân thì dân ca ví và giặm Nghệ Tĩnh vẫn đang tồn tại như một thực thể sống trong đời sống văn hóa tinh thần.
Tại LH Ví, giặm Nghệ Tĩnh lần II, 2013, bên cạnh các nghệ nhân cao tuổi từng biểu diễn trước 1945, điểm sáng của di sản này còn được ghi nhận với sự tham gia biểu diễn của nhiều gia đình nghệ nhân, có ba hoặc bốn thế hệ cùng hát dân ca. Lẽ thế, nên nhiều danh sĩ của xứ Nghệ đều được biết đến với những tích truyện quanh hát dân ca Nghệ Tĩnh như Nguyễn Công Trứ, Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh… Hiện dân ca Nghệ Tĩnh đang tồn tại một “khoảng trống” cố định trong lĩnh vực sáng tác lời, tạo bài bản mới.
Họ chính là tác giả của những bài dân ca, là người viết lời mới cho dân ca ví và giặm Nghệ Tĩnh. Có những bài bản được gọi là dân ca ví và giặm Nghệ Tĩnh nhưng thực chất do một người viết lời và dần trở nên sở hữu chung của cộng đồng.
Đáng buồn hơn nữa, ví và giặm là hai loại hình diễn xướng tuy giống nhau nhưng rất khác nhau thì hiện thời chừng như ví và giặm đã được quy về một tên gọi để xưng danh cho dân ca mảnh đất Nghệ Tĩnh.
Nói cho cùng dân ca luôn có những thay đổi, thích nghi với đời sống trong từng thời kỳ khác nhau. Đơn cử như về từ ngữ trong các làn điệu dân ca ví và giặm, đích thực mang nhiều thổ ngữ, âm điệu không dễ để khán giả vùng miền khác có thể thưởng thức được.
Những khoảng trống của một di sản Ví và giặm Nghệ Tĩnh là dân ca mang nhiều nét đặc trưng của vùng miền ghi dấu, diễn tả tâm sự, tình cảm, đời sống… của mảnh đất địa linh tài năng Nghệ Tĩnh. Tại LH Ví, giặm Nghệ Tĩnh lần II, 2013 vừa qua, bà Phan Thu Hiền, Phó Giám đốc Sở VHTTDL Hà Tĩnh, Trưởng Ban giám khảo LH đã nhìn: “Lực lượng người viết lời cho dân ca ví, giặm Nghệ Tĩnh đang càng ngày càng ít đi”.
Một khi mất môi trường diễn xướng thì nguy cơ sàn diễn hóa dân ca, mai một vốn bài vở dân ca thực thụ hiện hữu với dân ca Nghệ Tĩnh.
Ví không có từ Hán Việt, còn giặm thì tiết tấu chậm và buồn, mang nhiều tâm trạng cá nhân chủ nghĩa hơn ví… Thế nhưng, với giới trẻ bây chừ thì thảy đều được hiểu là dân ca ví, giặm và hiếm có nghệ nhân trẻ nào có thể phân biệt được đâu là hát ví, đâu là hát giặm? Hát cho ra ví, hát cho ra giặm quả thật lại càng khó hơn với những người trẻ tuổi.
Hiện trong đời sống đương đại, vai trò của người ‘trùm trò” đã vắng bóng cùng với sự vơi giảm của các cuộc hát giao lưu, đối đáp. Theo Nhà nghiên cứu văn hóa Thái Kim Đỉnh, hát ví là ở trên sông, còn hát giặm là trong đời sống lao động.