Những quy định mới về BHTG sẽ giúp người dân gửi tiền an tâm hơn
Về phí BHTG: Tại Việt Nam, phí BHTG được ứng dụng đồng hạng 0,15% trên tổng số dư tiền gửi được bảo hiểm. Trần Du Lịch Ủy viên Ủy ban Kinh tế của Quốc hội. Nếu những vấn đề này sớm được chỉ dẫn cụ thể sẽ góp phần nâng cao niềm tin công chúng và bảo đảm tính minh bạch, công bằng cho các tổ chức tham dự BHTG.
Nhưng để thực hiện điều này không đơn giản. Do đó, cần sớm nâng hạn mức trả tiền bảo hiểm để vừa hạp với sự đổi thay của các yếu tố làm cứ xác định hạn mức trả tiền bảo hiểm vừa củng cố niềm tin của người dân gửi tiền vào ngân hàng và các tổ chức tín dụng cũng như góp phần tạo điều kiện tiện lợi để Chính phủ tiến hành canh tân, tái cấu trúc hệ thống các tổ chức tín dụng. Thường nhật, thời gian chuẩn bị là 2 năm, nếu chuẩn bị tốt có thể vận dụng sớm hơn.
Tăng hạn mức trả tiền bảo hiểm cũng tránh được nguy cơ rút tiền hàng loạt gây tan vỡ. Hạn mức 50 triệu đồng vẫn được vận dụng từ năm 2005 đến nay đã quá lạc hậu. Việc áp dụng mức phí đồng hạng chỉ hiệp trong thời đoạn đầu khai triển hệ thống BHTG khi tổ chức BHTG chưa có đủ các nguồn lực cấp thiết. Việc tăng hạn mức trả tiền bảo hiểm cần phải căn cứ vào thông lệ quốc tế, điều kiện của thị trường và theo nguyên tắc BHTG phục vụ cho số đông người gửi tiền, làm sao để bảo vệ được tiền tiện tặn của đại bộ phận dân cư.
Theo Luật BHTG, hạn mức trả tiền bảo hiểm không còn “đóng khung” một mức cụ thể như các quy định trước đây mà giao Thủ tướng Chính phủ quy định hạn mức theo đề nghị của ngân hàng quốc gia trong từng thời kỳ. Để làm được điều này, các cơ quan chức năng cần khẩn trương ban hành các văn bản hướng dẫn thi hành Luật, trong đó, cần đặc biệt quan hoài tới một số vấn đề sau: Về hạn mức trả tiền bảo hiểm: Đây là vấn đề trực tiếp ảnh hưởng tới hành vi của người gửi tiền.
Nhưng cũng cần có cơ chế nâng cao năng lực tài chính của BHTGVN để đáp ứng được đích, nhiệm vụ đặt ra là bảo vệ tốt quyền lợi của người gửi tiền. Theo thông lệ quốc tế, muốn chuyển sang vận dụng mức phí BHTG theo rủi ro nhà băng trung ương phải ban hành được hệ thống chỉ tiêu để bảo đảm an toàn, phân biệt tổ chức nào rủi ro nhiều, tổ chức nào rủi ro ít và có thời kì để các tổ chức chuẩn bị.
Luật BHTG phát huy hiệu quả tích cực khi và chỉ khi bảo vệ tốt được quyền lợi của người gửi tiền, tạo được môi trường cạnh tranh lành mạnh, bình đẳng giữa các tổ chức dự BHTG, giúp các tổ chức hoạt động an toàn và giảm thiểu rủi ro. Tuy nhiên, nếu quy định một khung cứng như trước đây sẽ không tạo được sự linh hoạt, khó đáp ứng nhanh với tình hình thực tiễn và ước vọng của người gửi tiền khi những nguyên tố đó có sự thay đổi.
Đây là vấn đề quan yếu đối với hệ thống BHTG và đối với hệ thống nhà băng, tạo môi trường cạnh tranh đồng đẳng. Luật BHTG quy định: “Thủ tướng Chính phủ quy định khung phí BHTG theo yêu cầu của ngân hàng Nhà nước.
Đồng thời, Luật BHTG cần tạo được khuôn khổ pháp lý ăn nhập để tổ chức BHTG phát huy vai trò trong việc ổn định hệ thống ngân hàng tài chính, nâng cao niềm tin công chúng. Luật BHTG đã được ban hành và có hiệu lực thi hành từ ngày 1/1/2013, trong đó xác định mục tiêu bảo vệ tốt quyền và ích hợp pháp của người gửi tiền, góp phần bảo đảm an toàn hoạt động nhà băng.
Quy định này cũng thích hợp với thiên hướng quốc tế là chuyển từ mô hình phí đồng hạng sang ứng dụng mô hình phí theo rủi ro. Hạn mức trả tiền bảo hiểm quá thấp khó duy trì niềm tin của người gửi tiền và khi có sự cố xảy ra thường khó tránh khỏi hiện tượng đột biến rút tiền hàng loạt.
TS. Tuy nhiên, hạn chế của việc này là không công bằng, tiềm ẩn rủi ro đạo đức và hạn chế sự cạnh tranh giữa các tổ chức tham dự BHTG trong việc nâng cao chất lượng hoạt động để hưởng mức phí thấp. Như vậy, quy định về phí BHTG của Luật BHTG đã kế thừa quy định tiến bộ về phí BHTG của Nghị định 109/2005/NĐ-CP làm nền tảng cho việc ứng dụng hệ thống phí điều chỉnh theo rủi ro trong thời gian tới.
Căn cứ vào khung phí BHTG, nhà băng Nhà nước quy định mức phí BHTG cụ thể đối với tổ chức dự BHTG trên cơ sở kết quả đánh giá và phân loại các tổ chức này”. Việc nâng hạn mức trả tiền bảo hiểm càng cao, nguy cơ phải trả tiền bảo hiểm do sự sụp đổ của các tổ chức tín dụng càng thấp.
Với sự phát triển của hệ thống ngân hàng Việt Nam cả về số lượng và trình độ trong những năm qua, vận dụng hệ thống phí đồng hạng không còn hiệp với thực tiễn.