Sự nhiệt tình đó nhiều khi thái quá, khiến các đề tài nghiên cứu thường phải gắn với một lý thuyết nào đó, tạo nên sự rập khuôn, mô phỏng một cách máy móc từ tên đề tài đến cấu trúc công trình. Tại hội thảo Tự sự học, văn chương so sánh, văn học hậu đương đại,. Với các công trình này, người đọc chỉ thấy tác phẩm bị mổ xẻ, "phanh thây bằng cây đao lý luận" mà không thấy cái hay, cái đẹp, thông điệp cuộc sống và nhiều giá trị khác nữa từ tác phẩm.
Như vậy, họ đã đánh mất tố chất cần thiết của một người làm thuê tác khoa học. Trong các tác phẩm sử thi, tiểu thuyết; vậy mà giờ, có nhà nghiên cứu thản nhiên cho rằng đảo thuật, dự thuật là thi pháp tự sự của văn học hiện đại, hậu đương đại phương Tây.
Vì bình thường, các nhà khoa học đầu ngành tự tìm tòi, ứng dụng lý thuyết để nghiên cứu, sau đó dịch thuật, giới thiệu rộng rãi tới mọi người. Tâm lý này khiến nhiều tác giả, tác phẩm "nhập cảng" vào Việt Nam đều trở thành những "bộ xống áo của hoàng đế". Đều được các nhà nghiên cứu dễ dàng quy về cho phương Tây, lấy phương Tây làm chuẩn, làm tâm điểm, làm giá trị.
Vẫn biết các thuật ngữ trên là những vấn đề mấu chốt, nhưng xác lập cấu trúc đề tài như thế là xuất hành từ lý luận (dụng cụ) chứ không phải từ đối tượng nghiên cứu (tác phẩm). Cho đến nay, chừng như Hội Nhà văn Việt Nam và các viện, trung tâm nghiên cứu, trường đại học chưa có động thái giới thiệu một cách có tổ chức, có hệ thống về các lý thuyết văn chương.
Điều này đòi hỏi nhà phê bình, nghiên cứu phải thông suốt một đôi ngoại ngữ. Trong khuôn khổ của bài viết, chúng tôi mạo muội "lập bệnh án" về phê bình, nghiên cứu văn chương ở Việt Nam hiện, và xem mình cũng là một "con bệnh". Một số bất cập trên đây là hai mặt của một vấn đề đã và đang tồn tại trong phê bình, nghiên cứu văn chương hiện giờ.
Thậm chí có thể nói, không có lý luận, phê bình và nghiên cứu văn chương sẽ như "nhà không có móng".
Ở Việt Nam giờ, số người này không nhiều. Ngoài ra, khi định nghĩa một thuật ngữ, những người nghiên cứu đi sau thường dẫn theo công trình nào đó của người đi trước. Tỉ dụ: Với khuôn mẫu đề tài như "Nghệ thuật tự sự trong tác phẩm A" thì sẽ có các chương "người kể chuyện, điểm nhìn, giọng điệu. Từ việc luận bàn về các thuật ngữ đặt ra thường chỉ tranh luận nửa vời, dẫn đến việc tiếp thụ lý luận của một số nhà nghiên cứu Việt Nam như rơi vào cảnh "thầy tướng xem voi".
Điều đó phần nào biểu đạt sự non yếu về bản lĩnh khoa học của giới phê bình, nghiên cứu. Ngoại ngữ đã và đang là "gót chân A-sin" của nhiều người trong giới phê bình, nghiên cứu. Đây là một kiểu "hiếp dâm" tác phẩm văn học bằng lý luận, biến sự đơn giản thành phức tạp, rõ ràng thành mơ hồ, rẽ ròi thành rối rắm; đáng ra phải "giải mã" tác phẩm thì có tác giả lại đi "mã hóa" tác phẩm một cách phi khoa học.
Phần lớn, mỗi lý thuyết đến tay người nghiên cứu đều đã được các nhà khoa học đầu ngành tổng hợp từ một số tài liệu nước ngoài. Phải nói rằng, chúng ta đã và đang tụt hậu về lý luận. Đó là một lý do khiến giới phê bình, nghiên cứu trong nước rất háo hức, nhiệt tình đón nhận các hệ hình lý thuyết mới của phương Tây.
Và đây là kiểu kết nạp "hớt ngọn" khởi hành từ tâm lý ỷ lại, không muốn hoặc không dám tự chịu bổn phận về cách hiểu một thuật ngữ, nguồn tư liệu gốc.
Lý luận là nguyên tố tối cần thiết đối với hoạt động phê bình và nghiên cứu văn học. "; Khuôn mẫu đề tài "Dấu ấn hậu đương đại trong tác phẩm B" thì sẽ có "giễu nhại, liên văn bản, mảnh vỡ".
Những người đi sau xem đó như là cẩm nang, cứ thế ứng dụng, kế thừa. Mỗi lý thuyết mới thường mở ra trước người làm phê bình, nghiên cứu một chân trời mới đầy quyến rũ. Thí dụ: Thi pháp học đương đại thịnh hành ở phương Tây khoảng nửa đầu thế kỷ 20, nhưng đến thập niên 80 của thế kỷ trước mới được vận dụng ở Việt Nam; Tự sự học được các nhà khoa học trên thế giới quan tâm vào thập niên 70, du nhập vào Trung Quốc thập niên 90 của thế kỷ 20, đến Việt Nam khoảng những năm 2000; văn học so sánh ra đời ở phương Tây từ đầu thế kỷ 20, đến năm 1954, Hiệp hội văn học so sánh Quốc tế được chính thức thành lập; Ở Trung Quốc, bộ môn văn học so sánh được đưa vào chương trình đào tạo đại học cách đây hơn 20 năm, còn ở Việt Nam, đến nay mới có một số trường đại học đưa bộ môn này vào chương trình đào tạo.
Tất nhiên các tác giả này sẽ khó có sự phản biện khi tiếp thu kiến thức. Họ đành phải dùng lý luận do người khác dịch thuật mà không có khả năng kiểm định. Các hội thảo cũng chưa thống nhất không chỉ về thuật ngữ mà cả nội hàm của thuật ngữ. Các tác giả, các tác phẩm đoạt giải thưởng cao của văn học nước ngoài đều trở thành chọn lựa ưu tiên của nhiều đề tài chuyên ngành. NGUYỄN THỊ TỊNH THY.
Một số công trình đã được triển khai như hành động phô diễn chữ nghĩa lý luận mà tác giả tiếp cận được như một "chiêu thức lòe" tri thức lý luận mà quên rằng, giá trị của một công trình phê bình, nghiên cứu trước nhất là ở năng lực ứng dụng phương pháp, cảm thụ, giảng giải văn học.
Các lý thuyết, trào lưu văn chương được giới thiệu ở Việt Nam thường là đến sau các nước nói trên từ 10 đến 20 năm, và sau phương Tây từ 20 đến 40 năm. Nhìn chung trong một số trường hợp, tâm lý chuộng ngoại và "trọng huy chương" đã ảnh hưởng rất rõ đến lập trường khoa học của một bộ phận trong giới phê bình, nghiên cứu văn chương.
Chả hạn lý thuyết "hậu hiện đại", "hậu thực dân" đang được sử dụng để soi chiếu vào một số tác phẩm văn học Việt Nam một cách đồng đẳng như với các tác phẩm văn học nước ngoài mà tác giả các tiểu luận, công trình không hề cân nhắc có hay không (có ở mức độ nào) tâm thức hậu đương đại, tâm lý hậu thực dân ở một dân tộc vừa "từ trong máu lửa, rũ bùn đứng dậy sáng lòa" từ cuộc cách mạng dân tộc - dân chủ - nhân dân, cách mạng phóng thích một cách triệt để như Việt Nam.
Thành ra, việc "phòng bệnh, kê đơn, bốc thuốc" như thế nà trách nhiệm chung của tuốt tuột chúng ta. Dù được nghiên cứu theo lý thuyết nào thì khuynh hướng chung vẫn là khen, đánh giá cao các tác giả, tác phẩm đó. Ngoài ra, một số nhà nghiên cứu thường chọn một lý thuyết lý luận mới (càng mới, càng thời thượng càng tốt!) mà mình thích hoặc am tường, sau đó áp đặt chứ không phải là ứng dụng vào nghiên cứu tác phẩm văn học, không hề quan tâm tới sự cân xứng của lý thuyết với thực tiễn văn học.
Ví như đảo thuật, dự thuật được các nhà văn cổ - trung đại phương Đông như Trung Quốc, Ấn Độ, Nhật Bản dùng rất nhiều, rất thuần thục với các thủ pháp hồi cố, phục bút,.
Đây là kiểu nghiên cứu "đẽo chân cho vừa giày", đi ngược lại logic khoa học, bởi không lên đường từ yêu cầu tự thân của đối tượng nghiên cứu là tác phẩm văn chương. Hơn nữa, nhiều sáng tác của văn học Việt Nam hiện đại, nhất là hiện đại đều có liên tưởng ít nhiều với lý luận phương Tây. Hầu như chơi có công trình nào tiến hành phản biện, chỉ ra những điểm chưa thành công của tác giả, tác phẩm.
Để rồi các cặp thuật ngữ trần thuật học/tự sự học, điểm nhìn/góc nhìn, siêu hư cấu/siêu tiểu thuyết,. Trong tiếng nói phê bình, nghiên cứu cũng vậy. Văn học phương Tây nói chung, lý luận phương Tây nói riêng, có tác động rất lớn trong quá trình hiện đại hóa văn chương các nước phương Đông trên nhiều mặt từ sáng tác đến phê bình, nghiên cứu.
Ở Việt Nam nhiều năm nay, tuy hoạt động phê bình, nghiên cứu luôn có vai trò của lý luận, song so với các nước trong khu vực như Nhật Bản, Trung Quốc, Thái-lan,. Tổ chức gần đây, phần đông tham luận tụ tập vào mảng ứng dụng, chỉ có một đôi tham luận thuần túy lý luận. Bởi vậy, một số thuật ngữ dịch chưa chuẩn, chưa đúng với tinh thần nguyên tác, chưa hợp nhất, còn đậm tính chủ quan của một (vài) cá nhân nào đó vẫn được sử dụng từ người này sang người khác dẫn đến hiện tượng nhiều thuật ngữ lý luận rơi vào tình trạng "tam sao thất bản".
Để khắc phục vấn đề này, cần có một chiến lược thật sự nhằm cải tạo tri thức, tâm lý và bản lĩnh của người phê bình và nghiên cứu.
Sự vồn vập, ngợi khen thái quá theo kiểu "té nước theo mưa" này chẳng qua là hành động chạy theo thời thượng, triệt tiêu tính độc lập, sáng tạo cần có của người làm mướn việc phê bình, nghiên cứu.
Những lầm lẫn này một phần phát xuất từ vốn kiến văn chưa dày dặn của người làm phê bình, nghiên cứu và quan yếu hơn, là từ sự sùng bái và chuộng phương Tây. Thực tại cho thấy, muốn hiểu kĩ càng về một lý thuyết, cần tiếp xúc trực tiếp với nguyên tác.
Lược qua như vậy để thấy rằng, phần lớn lý thuyết văn chương hiện đại có mặt ở Việt Nam đều có cội nguồn từ phương Tây, và tuồng như được nhập cảng một cách tự phát, thiếu hệ thống.
Vẫn cứ tồn tại đồng thời, càng làm phức tạp hóa lý luận.
Khác với các nền văn học lớn trên thế giới như Pháp, Anh, Nga, Mỹ, Trung Quốc, Ấn Độ,. Do vậy, hầu như tất thảy những gì mới mẻ của phương pháp, của thủ pháp, của lý luận,. Trong tâm thức một số đứa ở phương Đông, những gì gắn với phương Tây đều mang ý nghĩa văn minh, tiến bộ, hiện đại.
"Một viên ngọc bích cũng còn có vết", không phải cứ tác phẩm đoạt giải là khen, nếu cả thế giới khen mà mình không khen thì chứng tỏ mình không giỏi, không mới.
Văn học Việt Nam từ xưa đến nay vốn không mạnh về lý luận, chưa có hệ thống lý luận của riêng mình.