Dần dần, những tiêu chí đánh giá hiệu quả đã trở nên tiêu chí để quay lại giám sát

Nguồn: internet Những bất cập của mô hình giám sát hiện hành… Về mô hình quản lý giám sát, ngay từ năm 2001, khi chúng ta triển khai vấn đề đổi mới, xếp đặt và cải cách DN, Chính phủ Việt Nam đã có sự quan hoài và tụ tập rất mạnh vào vấn đề giám sát và quản lý phi tài chính đối với DN có vốn quốc gia.
Trong trường hợp DN gặp những rủi ro thì phải tiến hành vấn đề giám sát đặc biệt. Nghĩa vụ kiểm soát của cơ quan nhà nước tiến hành chủ yếu là giám sát tuân thủ, vậy, nó hoàn toàn không có tác dụng hăng hái trong việc đề phòng, cảnh báo. Trên thực tế cũng đã xảy ra tình trạng một số DNNN có vi phạm trong vấn đề sản xuất kinh dinh, đầu tư và quản lý vốn, tài sản quốc gia nhưng chưa kịp thời phát hiện và có biện pháp chấn chỉnh hữu hiệu.
Những DN nào quan tâm đến việc giám sát rủi ro, an toàn về tài chính, đã tiếp cận với những cơ quan tham vấn, các hiệp hội, đặc biệt các cơ quan kế toán, kiểm toán, phối hợp với việc hoàn thiện hệ thống công nghệ thông tin ở trong DN… thì đảm bảo được vấn đề giám sát tốt và hiệu quả.
Nguyên nhân của tình trạng này là bởi bộ tiêu chí giám sát này phân theo ngành nghề và song song lại có cả những tiêu chí hiệu quả của hoạt động kinh doanh. Bởi vậy, tính kịp thời trong giám sát, đánh giá hiệu quả hoạt động của DN còn hạn chế, tính cảnh báo ngừa chưa được phát huy, kết quả giám sát đánh giá đẵn để khắc phục hậu quả.
Như vậy là chúng ta đã làm ngược, xem kết quả rồi mới giám sát. Qua đánh giá, chúng tôi rút ra được một số vấn đề bất cập của mô hình này như sau: Thứ nhất , về nội dung giám sát, trong các quy chế đã quy định tương đối cụ thể về vấn đề đánh giá hiệu quả, do đó, các DN, các chủ sở hữu là các bộ, ngành, địa phương đốn tụ hợp đánh giá các chỉ tiêu hiệu quả để phân loại, sau đó tiến hành các cơ chế khen thưởng, phân chia các nguồn thu nhập sau thuế.
Về tính kịp thời của việc giám sát: việc giám sát theo Quyết định số 224/2006/QĐ-TTg thực hiện mỗi năm một lần, sau khi DN đã hoàn tất việc kiểm toán độc lập báo cáo tài chính.
Trong vấn đề về ban hành văn bản, chúng ta cũng đưa ra một nguyên tắc cơ bản để DN tự chủ, tự giám sát, cơ quan quản lý và giám sát của nhà nước là Bộ Tài chính sẽ là cơ quan tổng hợp về thưa giám sát đó, định kỳ thưa cho Chính phủ và Quốc hội.
Kết quả đạt được đã tạo dựng được cơ chế cho DN chủ động giám sát. Hẳn nhiên, trong quá trình thực hiện, vẫn cần tiếp tục phải nghiên cứu hoàn thiện, nhưng trước mắt Nghị định này sẽ giúp cho chúng ta tin cẩn hơn vào hệ thống số liệu mà các DNNN công bố và có bộ phận kiểm chứng để lấy lại niềm tin đối với các nhà đầu tư trong và ngoài nước cũng như trong tầng lớp.
Trong quá trình giám sát, các cơ quan chủ thể giám sát sẽ được tiếp cận mỏng của các cơ quan thanh tra và kiểm toán của nhà nước đối với khu vực có vốn nhà nước.
Về quy định bổn phận, trong cơ chế hiện hành, chúng ta cũng chưa quy định rõ đâu là trách nhiệm của DN, đâu là trách nhiệm chủ sử hữu, đâu là của cơ quan quản lý, dẫn đến tình trạng chủ sở hữu không nắm được và cơ quan quản lý quốc gia xuống giám sát thì cũng không có phương tiện để tiến hành.
- Đối với cơ quan quản lý tài chính DN: phải có bổn phận giám sát soát việc tổ chức thực hiện giám sát của chủ sở hữu DN, giám sát việc chấp hành pháp luật và tổng hợp mỏng để công khai trước Quốc hội và dân chúng.
…Và sự an toàn trong mô hình giám sát mới Từ năm 2010, khi Luật DNNN đã hoàn thành sứ mạng lịch sử, chúng ta bước sang thời kỳ các DN có vốn nhà nước, các DN 100% vốn quốc gia được hoạt động bình đẳng với các loại DN khác thì Chính phủ cũng đã yêu cầu các bộ, ngành nghiên cứu một mô hình giám sát theo hướng giám sát và cảnh báo, ngừa; còn hệ thống giám sát tuân thủ đã có các cơ quan thanh tra, rà soát, Kiểm toán quốc gia thực hành.
Quy chế giám sát tài chính kèm theo Nghị định số 61/2013/NĐ-CP đã khắc phục các khiếm khuyết của cơ chế hiện hành. # Và các cơ quan quản lý quốc gia. Tuy nhiên, với sự chuẩn bị từ năm 2011 đến nay, nhìn những quy định của Nghị định số 61/2013/NĐ-CP sẽ đáp ứng được yêu cầu và nhu cầu của ngày nay và trong ngày mai sắp tới. Trong quy chế đặc biệt, Nghị định cũng đã đưa ra những dấu hiệu, quy trình và xử lý sau khi giám sát đặc biệt.
- Đối với chủ sở hữu DN: phải thẳng băng giám sát trước và trong đối với DN có vốn nhà nước. Quy chế giám sát tài chính kèm theo Nghị định số 61/2013/NĐ-CP đã khắc phục các khiếm khuyết của cơ chế hiện hành. Theo Kiểm toán Cuối tháng.
Cụ thể là: - Ban hành các tiêu chí giám sát tài chính cụ thể tại DN; - Nội dung các tiêu chí giám sát theo hướng đánh giá đúng, đủ và sát tình hình hoạt động và hiệu quả sinh sản kinh doanh của DN và một bước tách bạch các yếu tố xã hội; - Làm rõ các chỉ tiêu bẩm giúp DN thực hành đúng quy định về ít, công khai tình hình tài chính, sáng tỏ xác thực hơn kết quả hoạt động của DN; - Quy định cụ thể về bổn phận về quản lý và giám sát tài chính DN của chủ sở hữu, của DN và của cơ quan quản lý nhà nước về tài chính; - Đưa ra các chế tài xử lý đối với các tổ chức, cá nhân nếu không thực hành trang nghiêm các nội dung giám sát tài chính và đánh giá hiệu quả hoạt động DN mà Quy chế đã nêu.
Chế tài xử lý đối với các vi phạm trong việc giám sát, đánh giá hiệu quả DN cũng chưa đầy đủ, rõ ràng và chưa đảm bảo được tính răn đe. Cũng trong tuổi đó, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 61/2013/NĐ-CP về việc ban hành Quy chế giám sát tài chính và Bộ Tài chính cũng đã có một số văn bản chỉ dẫn quản lý và giám sát tài chính đối với vốn quốc gia tại các DNNN, như: Quyết định số 271/2003/QĐ-TTg ngày 31/12/2003, khi ra đời Luật DNNN 2003, Quyết định số 224/2006/QĐ-TTg ngày 6/10/2006, khi chúng ta sửa đổi để thích hợp với việc hội nhập.
Tóm lại, với một Quy chế mới ban hành, cần phải trải qua thời gian mới có thể đánh giá được hiệu quả. Bốn là , hệ thống chế tài được thiết kế cụ thể, đủ mạnh và rõ ràng đối với các trường hợp vi phạm, song song phải gắn với quyền và trách nhiệm của từng chủ thể giám sát.
Mục tiêu của Nghị định số 61/2013/NĐ-CP: Một là, giám sát tài chính tức thị đánh giá đúng được thực trạng tài chính của DN, những nguy cơ tiềm ẩn dẫn đến rủi ro tài chính.
Hai là, phân định rõ mối quan hệ giữa các chủ thể thực hành giám sát tài chính: - Đối với DN: tập kết vào hệ thống quản lý, Hội đồng quản trị và các ban điều hành, trong đó DN phải tự xây dựng được hệ thống kiểm soát hay kiểm toán nội bộ và xây dựng được mẫu biểu hệ thống thu thập thông báo từ công ty con đến công ty mẹ hoặc công ty bộ phận đến công ty độc lập.
Nếu lãnh đạo DN không quan tâm hoặc vì một lý do tư lợi nào đó sẽ rất dễ dẫn đến việc biến bộ tiêu chí phục vụ cho ích lợi bản thân trong DN. Năm là, thực hiện công khai minh bạch thông báo về tình hình tài chính của DN theo từng đối tượng hấp thụ thông báo (chủ sở hữu, cơ quan quản lý nhà nước, người cần lao, nhà đầu tư) để các đối tượng tiếp nhận thông báo nắm bắt được thực trạng tài chính DN.
Tập trung vào vấn đề giám sát trước và trong, thay vì chỉ giám sát sau và giám sát tuân. Chế tài xử lý phân cấp trên cả ba khâu, từ DN, chủ sở hữu gồm các bộ, ngành và các Ủy ban quần chúng. Ngày 25/6/2013, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 61/2013/NĐ-CP về việc ban hành Quy chế giám sát tài chính, đánh giá hiệu quả hoạt động và công khai thông báo tài chính đối với DN do quốc gia làm chủ sở hữu và DN có vốn nhà nước.
Thứ hai , bộ tiêu chí giám sát chỉ tụ họp vào việc đánh giá hiệu quả, còn các tiêu chí giám sát để phòng ngừa rủi ro lại giao cho DN tự xây dựng, cứ vào những quy định của các chuẩn kế toán, của DN dẫn đến tình trạng mỗi DN có một bộ tiêu chí khác nhau.
Tiếp đó là Quyết định số 169/2007/QĐ-TTg ngày 8/11/2007 (thay thế Quyết định số 271/2003/QĐ-TTg) để giám sát những DN có rủi ro về tài chính. Ba là, hệ thống các tiêu chí giám sát tài chính đảm bảo đầy đủ nội dung cần thiết, có tính đến tính chất ngành nghề, bảo đảm đề nghị của từng chế độ ít. Ngược lại, do sự tự chủ của cơ chế này nên nếu những DN nào không quan tâm, không chú trọng các vấn đề trên thì sẽ dẫn đến việc kiểm soát phòng ngừa rủi ro không thực hiện được.