Tháng tư, những trận mưa đầu mùa trút xuống rừng cao su nghe như bão. Đất miền Đông dính như bột sắn lọc nhuộm đỏ. Ra khỏi "lán" một quãng, đế dép râu đã dày thêm cả gang đất. Ấy vậy mà không biết ai đi đâu đưa về một tin làm chúng tôi náo nức: Có nhiều chị em nữ tù người Quảng Trị vừa được phía địch trao trả đang ở Lộc Ninh! Chả là tiểu đội tôi toàn anh em sinh viên cùng một trường Đại học thương mại ở Hà Nội tòng ngũ, trong đó có hai đứa dân Quảng Trị gốc là Võ Văn Đảm và Lê Nam Trung (người Vĩnh Giang, Vĩnh Nam, Vĩnh Linh). Còn tôi thì nửa nạc nửa mỡ: mạ Vĩnh Linh, ba Quảng Bình... Nên khi nghe tin có người Quảng Trị thì mừng lắm, kéo nhau đi tìm bằng được. Đường sá lạ hoắc, địch tình chưa thạo, vậy mà chúng tôi cứ liều đi tìm. Ra khỏi rừng cao su thăm thẳm, ướt át, qua khỏi một đồi tranh, chúng tôi phát hiện ra mấy cái lán lợp tranh còn mới, hỏi thì đúng là lán của anh chị em tù vừa trao trả đang chờ buổi. Hỏi thêm mới hay mấy chị Quảng Trị cũng đang "đi tìm đồng hương" ở làng 7!
Cuộc tao ngộ kỳ lạ và cảm động giữa anh em lính chúng tôi và các chị đồng hương diễn ra tại căn nhà gỗ lợp tôn của chú Sáu, dân Cam Lộ tha phương kiếm sống từ những năm 40. Biết chúng tôi là những sinh viên ở Hà Nội mới đi lính và vào tận "B2", các chị rất cảm động. Nhưng khi Đảm, Trung và tôi tự giới thiệu là người Quảng Trị thì các chị nhìn nhau tỏ vẻ ngờ. Có nhẽ vì anh em chúng tôi ở trong một đơn vị toàn lính miền Bắc, nên phải nói tiếng lơ lớ, pha Trung pha Bắc, nói "tiếng phổ quát", đồng đội mới nghe nhau được. Ngay các chị và chú Sáu, tôi cũng nghe giọng đã pha Trung pha Nam, không còn "từ ngữ" và giọng Quảng Trị nữa. Đang hồi "gay cấn", chị Ngân, người lớn tuổi nhất bỗng nói một câu dài bằng "tiếng Quảng Trị": - Mấy út nói mấy út người Quảng Trị miềng, mấy ả mờng hung lắm! Răng mấy út nỏ nói tiếng Quảng Trị mô cả. Út mô nói một câu chi thiệt dài rặt tiếng Quảng Trị miềng coi? Như bấm đúng huyệt, căn phòng bỗng rôm rả hẳn lên. Đảm và Trung tranh nhau, hích vào vai nhau để giành nói. Chị Ngân thấy Trung trẻ nhất đám, chỉ vào nó: "Út ni". Trung vốn bẻm mép, có tài kể chuyện, nên khi được chị Ngân chỉ định nói "tiếng" Quảng Trị, mắt nó long lanh, hấp háy, hai tay xoa xoa vào nhau ra cái điều điệu: - Mấy ả ơi, mấy ả mần răng cho tui mạn cấy vá tui múc vá mói tui nêm tréc keng bù để tui bơng cho mệ tui một đọi, mệ tui húp cho mát rọt! (Mấy chị ơi, mấy chị làm sao cho tôi mượn cái muôi tôi múc muôi muối tôi nêm nồi canh bầu để tôi bưng cho bà tôi một bát, bà tôi ăn cho mát lòng). - Rứa là thiệt người quê miềng đặc sệt rồi, chi nữa-chú Sáu cười ha hả, quờ tay xuống gầm tủ lôi ra chai rượu... Chúng tôi cũng cười, thằng Nguyễn quả cảm, Nguyễn Quốc Tiến học đại học với tôi mấy năm ròng ở Hà Nội, ngày nào cũng nghe tôi nói tiếng miền Trung "trọ trẹ", mà lần này nghe thằng Trung nói xong, nó cứ ngớ ra, tròn xoay mắt chẳng hiểu mô tê gì cả. Còn cả 6 người phụ nữ Quảng Trị thì nước mắt ràn rụa. Có người khóc nấc lên thành tiếng. Hoá ra đã bao năm tù tội mỗi người một phương, các chị chưa hề được lần nào nghe một câu nói "tiếng quê hương" đậm đặc đến như thế! Tôi sững sờ không hiểu sao cái thứ tiếng nói "quê kệch" ấy lại có sức mạnh ghê gớm đến vậy. Sau đó các chị giới thiệu tên, kể chuyện khám đường đều bằng tiếng Quảng Trị. Chúng tôi cũng giới thiệu tên từng đứa, kể chuyện hành quân bằng cái thứ tiếng mà thằng Trung đã nói. Cô Hồng, người trẻ đẹp nhất trong các chị quê ở Hải Quế, Hải Lăng, có đôi mắt rất xinh quay sang nói: - Em Khôi nói chi đi, răng mà bụt rứa! -Tui nỏ biết nói chi hơn, tui xin đọc thơ. Ở Quảng Trị miềng thời chống Pháp có thi sĩ Hồ Vi hay lắm. Eng mần thơ toàn bằng tiếng Quảng Trị, ai nói "quê" cũng không chịu sửa, cứ để thế mà ai cũng nhớ, cũng thuộc. Tôi cũng nói "tiếng" Quảng Trị rồi đọc bài thơ "Lời quê" của Hồ Vi: Mấy bữa ni rồi trời thiếu nắng/Chừng chưa bưa lụt nước còn cao/Khi hôm quân nhân tiến quân tới/Trấn thủ dầm phơi chật cả sào. Mạ mi đem dủi ra ngoài ruộng/Kiếm ít đam cua chút của đồng/Thêm đôi ba miếng anh em đõ/Của nhà quê kiểng buổi thu đông/Bớ anh nội vụ khoan đi chợ/Xa ngái đường trơn bấm cực chân/Xuồng bên chị Mót buôn tơi nón/Anh nhảy mà đi được đỡ chừng... Bài thơ "Lời quê" của Hồ Vi không ngờ lại làm cho không khí đêm vui trầm xuống, xao xuyến. Chị Ngân bắt tôi đọc lại bài thơ một lần nữa, đọc rõ từng tiếng một. Vâng, "Lời quê" đã vào thơ, đã vang lên trong tâm não, kéo con người về với cỗi nguồn. Nhiều chị rút khăn mùi soa chấm đôi mắt đỏ hoe. Tôi vừa đọc thơ vừa gìm giữ để không bật khóc!
Những ngày sau đó, đồng hương Quảng Trị, đồng hương Bình-Trị-Thiên (vì trong đoàn các chị có cô Hương người Phong Điền) liên tiếp họp. Khi thì ở nhà ông Sáu, khi thì ở nhà của "các chị tội nhân" ở Lộc Thạch. Qua câu chuyện tôi biết thêm rất nhiều những người nữ tầy ấy. Các chị hoạt động biệt động, "đi" du kích, là cơ sở, giao liên bị lộ, bị bắt. Có chị đã bị tù 10 năm, 8 năm, qua nhiều khám nổi tiếng như Thừa Phủ, Chí Hòa, Phú Quốc, Côn Đảo. Người bị tù ít nhất là Hồng cũng đã hơn 4 năm. Chị nào cũng mang vết thương trên người do bị địch tra tấn. Hơn nửa số chị tôi quen bị chúng tra tấn đến triệt đường sản xuất, trong đó có người chưa kịp lấy chồng! Các chị đang an dưỡng, chữa bệnh trước khi về đơn vị cũ hay quê nhà, theo chủ trương của Chính phủ Cách mạng trợ thì... Về khuya, sự lưu luyến càng tăng lên. Các chị tặng bọn lính chúng tôi mỗi đứa một chiếc khăn thêu ở trong tù. Còn những bài hát, bài thơ tự viết ở trong tù chép trên các đoạn giấy vệ sinh, là thứ giấy độc nhất vô nhị được dùng tự do trong khám. Các chị còn tặng một chiếc nhẫn sáng bóng mài từ mảnh ca nhôm vỡ trong tù. Trong tiểu đội cho tôi là người biết thi phú văn học, nên trao cho tôi giữ những tặng phẩm đó. 40 năm đi qua cuộc chiến tranh, hôm nay những kỷ vật ấy đang ở trước mặt tôi, như người dẫn đường cho tôi có được những trang hồi tưởng này. "Đêm nói tiếng Quảng Trị thân yêu" ở Lộc Ninh ấy vẫn "sống" hoài trong tôi! Ngô Minh |

